Thư viện ảnh
Bài viết

Các ngôi sao The Blues không giấu được niềm sung sướng khi cầm trên tay chiếc Cup vô địch Champions League sau chiến thắng trước Bayern.

"Đảng, Nhà nước ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để văn học, nghệ thuật phát triển mạnh mẽ, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật Việt Nam" - Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang phát biểu trong lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật và danh hiệu nghệ sĩ nhân dân sáng 19/5 tại Hà Nội


  Sáng ngày 8 tháng 5 năm 2012 (tức ngày 20 tháng tư âm lịch) tại nhà văn hóa của làng đã Long Trọng Kỷ Niêm 120 năm Làng Nghề nhiếp ảnh truyền thống  Lai Xá 1892 - 2012

 

Triển lãm Ảnh nghệ thuật toàn quốc lần thứ 26

 

Thông báo giải thưởng xuất sắc năm 2012

Thông báo tài trợ sáng tác năm 2012

 

Thông báo cuộc thi và triển lãm ảnh Trẻ em

 

Thông báo cuộc thi Anh "Đất nước - Nhịp sống hôm nay"

Sáng 27/1 (mùng 5 Tết) dù trời rét đậm, nhưng hàng nghìn người vẫn đổ về gò Đống Đa (Hà Nội) dự lễ kỷ niệm 223 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.

>>Mồng 2 Tết Đi Chụp Anh Phố Ông Đồ

Dịp Tết Dương lịch, Hà Nội sẽ tổ chức lễ hội "Hà Nội điểm hẹn Phố và Hoa" quanh hồ Hoàn Kiếm.


Đang truy cập: 161
Lượt truy cập: 596701



            

Điều gì cấu thành nên một bức ảnh nghệ thuật?

Xem hình

Ảnh nghệ thuật là gì, chỉnh sửa thế nào là “vừa” luôn gây tranh luận gay gắt – chúng ta hãy thử nghiên cứu quan điểm này ở một số nhiếp ảnh gia nổi tiếng, ngõ hầu xây dựng cho mỗi tay máy một triết lý, con đường riêng mà vẫn nằm trong bối cảnh chung.

Giới thiệu bởi Alain Briot

Một bức ảnh nghệ thuật hàm chứa những gì? Nó chính xác là gì? – đây là một câu hỏi mà thi thoảng tôi vẫn thường nhận được. Câu trả lời vừa đơn giản lại vừa phức tạp. Theo một cách nhìn nhận, một bức ảnh nghệ thuật là một bức ảnh được sáng tác vì những lý do nghệ thuật. Ngoài ra, như các phương tiện truyền tải khác, nhiếp ảnh là một phương tiện được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Điều làm cho bức ảnh trở thành ảnh nghệ thuật chính là dụng ý của người nghệ sĩ, hơn là bản thân bức ảnh đó.

Dưới đây là tiểu luận của Ralph Nordstrom cho ta thấy quan điểm của ông về ảnh nghệ thuật là gì. Ngoài ra, ông còn trao đổi về vấn đề rất gai góc đó là chỉnh sửa ảnh hậu kỳ. Chúng ta cùng theo dõi.

Tiểu luận bởi Ralph Nordstrom

1. Giới thiệu

Ở các cuộc triển lãm, tôi thường được hỏi những câu như:  “Anh có dùng filter không nhỉ?”  “Anh có chỉnh sửa những tấm hình này không?”,  “Mấy cái màu này có thực như vậy không nhỉ?”

Câu trả lời rất đơn giản “Đương nhiên rồi.”  Thường thì tôi muốn phản hồi như sau “Nếu đây là những bức tranh, liệu ông bà có hỏi những màu sắc này là thật hay không? Hoặc có khi nào người ta lục vấn họa sĩ khi anh ta diễn giải cảnh vật trước mắt và lựa chọn màu theo cách nhìn nghệ thuật của họ?” Điều này dẫn tới một câu hỏi: “Là một nghệ sĩ, liệu một nhiếp ảnh gia có bị hạn chế sự tự do trong việc thể hiện cảm xúc của họ so sánh với họa sĩ, nhà điêu khắc, tiểu thuyết gia hay nhà soạn nhạc hay không?”  Bởi vậy “Đương nhiên rồi” là câu trả lời đơn giản, nhưng còn rất nhiều vấn đề đằng sau nó.

Một nhận xét khác mà tôi thường đưa ra, đó là tác động của nhiều nhiều giờ mà tôi phải dành cho mỗi bức ảnh để thể hiện cảm quan nghệ thuật của mình. Đôi khi tới 30 hay 40 giờ trải dài trong khoảng thời gian vài tháng thậm chí là vài năm. Nếu ta chụp vội một bức ảnh và đưa ngay tới tiệm để in thì có đáng gọi là nghệ thuật không? Hoặc nếu nhiếp ảnh gia dành ít thời gian hơn họa sĩ để hoàn tất một ảnh nghệ thuật thì có công bằng không khi gọi đó là nghệ thuật?

2. Mọi việc đều bắt đầu từ ánh sáng

Không có gì phải băn khoăn rằng một bức ảnh thiên nhiên đẹp phải bắt đầu bởi ánh sáng đẹp. Đó là lý do vì sao tôi phải dậy vào lúc 5:00 sáng thậm chí là 4:00 hoặc 3:00. Có khi là 2:00 sáng để chụp rạng đông tùy địa điểm. Với tôi, ánh sáng đẹp nhất là ánh sáng trước khi mặt trời mọc, đặc biệt nếu mặt trăng còn sáng một chút ở trời tây (thường thì chỉ xảy ra 3-4 ngày ở mỗi tuần trăng). Rất nhiều nhiếp ảnh gia nghệ thuật ưa thích hoàng hôn hoặc chạng vạng và tôi cũng không hề muốn bỏ lỡ thời khắc đó. Huyền thoại Ansel Adams cũng đã từng nhận xét rất hay về ánh sáng đẹp như sau “Đôi khi tôi tới những nơi vừa đúng lúc Chúa muốn ai đó phải kịp bấm chụp.” Galen Rowell, nhiếp ảnh gia nghệ thuật, nhà leo núi cừ khôi cũng nói như sau: “Tôi gần như không bao giờ dự định trước là chụp phong cảnh, hoặc tôi không nghĩ máy ảnh là một phương tiện để ghi lại hình ảnh núi non hay động vật, trừ khi tôi thực sự muốn một bức ảnh “để đời”. Ý nghĩ đầu tiên của tôi luôn là về ánh sáng.”.

3. Cảm quan nghệ sĩ

Ánh sáng đẹp mới chỉ là khởi đầu, là nền móng của một nhiếp ảnh gia. Ansel Adams đã nói:

“Trong dự cảm của tôi, tôi mường tượng một cảnh vật, một cảm giác rất… cụ thể, sẽ xuất hiện ở bản in cuối. Nếu điều đó làm tôi hứng khởi, thì khả năng cao là tôi sẽ chụp. Nó là một trực giác, một khả năng do thực hành thật nhiều mà có.”.

Cũng như nghệ sĩ ở các lĩnh vực khác, nhiếp ảnh gia là người chuyển tải cảm xúc. Bất cứ nghệ sĩ nào cũng có một cái gì đó để nói, nghệ sĩ nào cũng hé lộ chút gì đó về bản thân qua các tác phẩm nghệ thuật của họ. Nghệ thuật là một cách thể hiện bản thân rất riêng của người nghệ sĩ, và để đạt được hình thái chuyển tải đó, nghệ sĩ cần có một khoảng trời tự do nhất định. Chúng ta đều biết đó là “tự do nghệ thuật.”.

Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, nhiếp ảnh gia có vẻ như phải giữ một chuẩn mực cao hơn về “sự thực” - khi so sánh với các nghệ sĩ khác. Nhiếp ảnh gia được kỳ vọng thể hiện cảm quan nhiếp ảnh của mình mà không làm thay đổi gì trong bức ảnh. Kỳ vọng này có lẽ một phần xuất phát từ khả năng thêu dệt hoàn toàn một cảnh (giống thật mà) không có thật. Thế giới số cho nghệ sĩ một khả năng sáng tạo một bức ảnh hoàn toàn không hiện hữu trong thế giới thật, và điều này làm nảy sinh những quan ngại về mặt pháp lý.

Một ví dụ, đó là trang bìa số 14 tháng 3, 2007 của tờ Newsweek có đăng một hình ảnh không thật của Martha Stewart. Họ ghép khuôn mặt cười của Martha vào một thân hình mảnh mai đang vươn người trước tấm rèm vàng. Hiệp hội Nhiếp ảnh Báo chí Quốc gia đã gọi trang báo này là “… một sự vi phạm đạo đức trầm trọng và hoàn toàn gây nhầm lẫn cho công chúng.”.

Có một bức ảnh khác đăng ở WebShots cũng minh họa thêm cho quan điểm này, đây là một ảnh được thêu dệt hoàn toàn. Bức ảnh này có tên là “Grand Teton và Hoa dại, Wyoming.” Không thể nào chụp được bức ảnh này.  Tôi đã chụp hình ngay tại chỗ này ở Tetons. Và tôi có thể chứng minh rằng chẳng có hoa dại nào mọc quanh khu vực này, mà lại mọc phong phú như vậy. Thứ nữa là mấy cái hoa ở trong bức hình không hề là hoa dại mà là chụp từ một khu vườn tươi tốt nào đó sau đó dán chồng lên một cảnh rất đẹp của núi Moran với dòng sông. Đây rõ ràng không phải là ảnh nghệ thuật.

Những ví dụ như vậy rõ ràng làm cho người ta phải băn khoăn về việc một bức ảnh có “thật” hay không. Và nó cũng khuấy động vấn đề rằng vậy nghệ sĩ nhiếp ảnh được tự do trong khuôn khổ như thế nào?.

Galen Rowell đã thảo luận về khía cạnh đạo đức trong ảnh phong cảnh, khi nói về chỉnh sửa hình ảnh. Cũng nên lưu ý rằng Galen chụp phim và ông bị chết trước khi cơn sóng số ập tới. Cũng như các nhiếp ảnh gia máy phim khác, ông tuyên bố mình không chỉnh sửa thay đổi một bức ảnh (chúng ta sẽ trở lại vấn đề này sau). Vấn đề còn là ở chỗ Galen Rowell thậm chí còn không cảm thấy hợp pháp nếu tẩy đi một khúc cây hoặc thêm một khối đá vào bức ảnh. Ông thậm chí rất cẩn thận nếu thấy cần phải dịch chuyển vài ngọn cỏ để có được góc chụp mong muốn. Ông không bao giờ nhổ chúng đi mà chỉ uốn nó lệch khỏi vị trí một chút và phục hồi lại sau khi đã chụp xong.

Alain Briot, người thầy của tôi (bạn có thể thưởng thức những ảnh thiên nhiên rất đẹp của ông tại http://beautiful-landscape.com) thường thích một câu nói như sau (tôi tóm tắt lại), “Ảnh của tôi không thực, nhưng tin được”. Cũng như các nhiếp ảnh gia tài năng khác, ông cho phép mình được tự do thể hiện cảm xúc, cảm quan mà không bị trói buộc vào việc phải mô tả “sự thực” của cảnh quan trước mặt ông. Tôi nghĩ bạn sẽ đồng ý thôi, nếu dành thời gian thăm trang web của ông để thấy cảm quan của ông là có thể đáng tin.

4. Cái gì là thực?

Cái gọi là mô tả “đúng sự thật” đã gợi ra một điều hay. Liệu có cách nào để một máy ảnh có thể mô tả đúng sự thật của một bối cảnh nào đó được không? Câu trả lời không chỉ đơn giản là “Không,” mà còn phải nhấn mạnh là “Không đời nào!” Hãy thử tưởng tượng một cảnh các nhà khoa học đang cố gắng ghi lại chân thực nhất một cảnh chụp. Họ sẽ mang theo mình những thiết bị rất tinh vi nhằm tái tạo lại ánh sáng cả về cường độ và bước sóng (màu) của mọi thứ nằm trong thị trường. Mây trắng sẽ có cường độ sáng cao và là phối trộn của tất cả màu trong quang phổ nhìn thấy được. Bầu trời xanh sẽ không sáng căng lắm và chỉ tông xanh dương với một chút xíu các màu khác trộn chung. Cây, núi, đất, sông, suối đều được đo theo cách như vậy. Và kết quả là họ có một đống các con số cho mỗi điểm sáng. Và đó mới là sự thực trước mặt chúng ta. Nhưng lại không phải là cái ta nhìn thấy.

Mắt của chúng ta là một thiết bị cực kỳ tốt để nhìn thế giới, tốt hơn bất cứ thiết bị nào được phát minh ra. Người ta có thể tranh luận rằng mắt người chỉ có thể cho một cái nhìn không méo mó về thế giới Và điều này chắc hẳn là đúng ở góc độ cá nhân. Nhưng chúng ta cũng biết rằng mắt mỗi người mỗi khác. Có người bất hạnh bị mù, có người mắt yếu có người mắt sáng. Bản thân tôi bị yếu mắt trái và phải dựa chính vào mắt phải để nhìn. Số khác lại bị mù màu nên không thể nhìn thấy các màu tươi sáng như phần đông. Tuy nhiên, hầu như tất cả chúng ta đều cho rằng đôi mắt là “tiêu chuẩn vàng về sự thực” khi nhìn ra thế giới.

Vậy nhưng mắt chúng ta lại kết nối với não bộ, nên khi các tín hiệu thị giác được đưa tới não, chúng sẽ được diễn giải  cùng với những trải nghiệm mà ta có. Một ví dụ rất thú vị, đó là khi chúng ta nhìn vào một mảng lá xanh trong buổi hoàng hôn, chúng ta vẫn cho rằng những chiếc lá đó có màu xanh. Khi con gái tôi, lúc đó là 3 tuổi, nhìn thấy cái lá xanh đúng với màu sắc thực của nó, đã thốt lên: “cha ơi coi này, lá màu đỏ”. Một ví dụ khác: Vào một ngày trời trong xanh, bạn sẽ thấy ánh sáng ở các khu vực bóng đổ thực tế là có màu xanh dương bởi nó đến từ nền trời xanh chứ không phải từ mặt trời. Chúng ta chẳng mấy khi thấy màu xanh bởi chúng ta “biết” cái chúng ta nhìn vào không hẳn là màu xanh. Bởi những trải nghiệm của chúng ta làm chúng ta cho rằng / hoặc dịch giải theo cách cứ như thể nó không phải như vậy, trong khi thực tế lại là màu xanh. Hãy thử quan sát đi. Bạn hãy thử tập cho mình nhìn vượt qua định kiến thì sẽ nhìn thấy màu xanh ở bóng râm. Thực tế là rất đẹp.

5. Máy ảnh bóp méo “sự thật”

Có thể nói nôm na rằng tất cả chúng ta đều đôi chút bóp méo cảnh ở trước mắt, và điều này cũng đúng đối với máy ảnh. Máy ảnh phim hay máy ảnh số thì cũng vậy cả. Chúng đều làm thay đổi hình ảnh ghi lại được. Nếu bạn xem một nhiếp ảnh gia chụp và sau đó xem lại hình ảnh hoàn toàn chưa chỉnh sửa, bạn sẽ thấy ảnh và cái bạn nhìn thấy không hề giống nhau. Máy ảnh nhìn nhận cảnh quan khác với chúng ta, và lại còn một thực tế nữa, đó là tất thảy những gì lọt vào mắt chúng ta đều đã bị thay đổi, hay nói cách khác là “bị điều khiển” bởi nhận thức của chúng ta.

Vậy máy ảnh đã “bóp méo” ra sao? Có hai cấu phần chính của máy ảnh: ống kính và vật liệu bắt sáng (hoặc là phim hoặc là tấm cảm quang). Ống kính có thể làm biến dạng hình ảnh theo nhiều cách. Chúng có thể tạo vùng mờ vùng rõ. Chúng có thể bị ám sắc. Phần rìa có thể bị tối hơn phần trung tâm. Một ống kính nào đó có thể có đủ các bệnh nói trên. Người chụp nghiêm túc có thể bỏ hang ngàn đô-la cho chỉ một ống kính giúp giảm thiểu các biến dạng, nhưng các quang sai này vẫn còn đó chỉ ở mức độ thấp hơn mà thôi.

Vật liệu bắt sáng (phim hoặc cảm quang) cũng làm biến dạng. Phim được sản xuất nhằm đáp ứng với màu sắc hoặc ánh sáng đặc thù, thường là ánh sáng ban ngày. Nếu chúng ta dùng phim được thiết kế cho ánh sáng thông thường mà chụp trong nhà vào buổi tối thì ảnh sẽ bị ám màu vàng hoặc cam khá mạnh. Mà cái này thì không phải là cách chúng ta nhìn nhận. Nếu bạn chụp ngoại cảnh mà có những khu vực đổ bóng rất tối xen lẫn khu vực quá sáng thì phim hay cảm quang đều sẽ gặp khó khăn hiển thị đúng cả hai. Hoặc vùng tối sẽ bị đen kịt mất hẳn chi tiết hay vùng sáng sẽ trắng xóa và cũng không còn chi tiết. Đây được gọi là hiện tượng clipping (mất chi tiết) mà mắt người không bị ảnh hưởng bởi điều này.

6. “Mấy cái ảnh này là chưa bị thay đổi nha”

Nhiều nhiếp ảnh gia máy phim tuyên bố rằng ảnh của họ không bị sửa đổi. Điều này giống như là có chút gì không thành thật. Tôi cho rằng ngay cả Ansel Adams cũng không dám tuyên bố như vậy. Ông mường tượng được tấm ảnh sẽ được in ra trước khi bấm chụp. Những nhiếp ảnh gia dùng phim tuyên bố rằng họ không thay đổi gì ở bản in, nhưng thực tế là tất cả những người này đều dùng phim làm tăng bão hòa màu và tăng tương phản cho cảnh thật. Nếu chụp bằng phim transparency (mà hầu hết nhiếp ảnh gia phong cảnh sử dụng) và cầm lên so sánh với cảnh thực thì còn xa mới giống nhau.

Ngoài ra, những nhiếp ảnh gia máy phim còn dùng hàng loạt kính lọc từ kính lọc phân cực, kính làm sẫm, kính sẫm bán phần, làm ấm, làm lạnh, tạo sao, lọc màu bán phần v.v và v.v…. Và thế là họ lại đưa thêm thay đổi bởi kính lọc bên cạnh sự biến đổi cố hữu từ ống kính và phim mang lại. 

Vậy điều này có phải dở hay không? Tôi nghĩ rằng không hề. Các nghệ sĩ đều có những cách nhìn rất đẹp và tổng thể về thế giới đồng thời có kỹ năng hoàn hảo để hiện thực hóa tầm nhìn này. Mục đích tối thượng của các nhiếp ảnh gia máy phim là chụp được hình ảnh đẹp nhất, ghi lại trên phim và nhiều nhiếp ảnh gia bậc thầy đã cho ra những bức ảnh hút hồn.

Họ vẫn tiến hành đôi chút chỉnh sửa ở phòng tối khi phóng ảnh. Tất cả các bản in màu đều cần cân chỉnh để cho ra độ phơi sáng cũng như cân bằng màu đúng. Điều này không được coi là sửa đổi. Nhưng lại còn có kỹ thuật burning and dodging – một kỹ thuật phòng tối kinh điển giúp làm tối hoặc làm sáng một phần trong khung hình. Thường thì các kỹ thuật này cần được thi hành giúp cho bố cục hình mạnh hơn, để biến một hình chụp thông thường thành ảnh nghệ thuật. Cũng đôi khi người ta sử dụng kính lọc màu để thay đổi màu sắc của một khu vực nào đó trong khung hình. Và đây đều là những kỹ thuật phòng tối được chấp nhận sử dụng.

Nhiếp ảnh gia máy số không nhất thiết phải đi hết cả quãng đường đau khổ đó ngay tại hiện trường, để có thể có những tấm hình đẹp nhất. Đương nhiên, họ vẫn phải căn đúng sáng như chụp phim (mặc dù họ có xu hướng chỉnh lại phơi sáng nếu có bị trật đôi chút). Họ cũng sử dụng kính lọc phân cực, kính làm sẫm và kính làm sẫm bán phần. Nhưng họ không cần phải sử dụng kính lọc màu như các kính lọc làm ấm, hoặc làm lạnh tông màu. Và họ không phải đổi cảm quang để cho màu sắc được nhuận hơn. Rất nhiều thứ mà nhiếp ảnh gia máy phim phải tiến hành ngay ở hiện trường như thay phim, thay kính lọc, thì nhiếp ảnh gia máy số hoàn toàn làm được ở hậu kỳ. Sự thật khá giản đơn là nếu nhiếp ảnh gia máy phim không ghi lại được quan điểm nghệ thuật của họ vào phim, thì nhiều khả năng là họ chẳng bao giờ nhận ra được nó nữa.

7. Nghệ thuật mới là quan trọng

Hãy đừng bị phân tâm bởi cuộc tranh luận máy phim và máy số. Điều quan trọng là nghệ thuật và khả năng mà nghệ sĩ đó truyền tải được quan điểm nghệ thuật của mình. Tranh cãi phim số thật là hài hước và vô nghĩa. Bạn sẽ chẳng bao giờ thấy nhiếp ảnh gia tranh cãi với họa sĩ về việc phương tiện nào thì thật hơn. Bạn cũng không thấy họa sĩ sơn dầu tranh cãi với các họa sĩ màu nước.

Rốt cuộc thì phương tiện ghi hình không phải là vấn đề, mà nghệ thuật mới là vấn đề chính. Khi tôi xem một bức hình tuyệt vời bởi một nhiếp ảnh gia tuyệt vời, tôi không quan tâm tới nhiếp ảnh gia đó sử dụng phim, số, hay có chỉnh sửa gì không. Điều tôi quan tâm tới là nhiếp ảnh gia đó đã nói được điều gì đó với TÔI, to và rõ ràng. Tôi nhấn mạnh chữ TÔI bởi mỗi người sẽ có đáp ứng với nghệ thuật theo các cách rất cá nhân và không giống nhau. Cái gây ấn tượng với người này lại chẳng gây cảm xúc gì cho người khác.

8. Máy ảnh số đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nhiếp ảnh

Có lẽ không ai tranh cãi về việc máy ảnh số đã làm một cuộc cách mạng trong nhiếp ảnh. Rất nhiều nhiếp ảnh gia máy phim đã chuyển qua máy số. Nhiều người vẫn chụp phim nhưng scan và lưu ảnh vào máy tính để có thể chỉnh sửa hậu kỳ trên máy tính.

Bản thân tôi là người làm quen với kỹ thuật buồng tối phim từ xưa và giờ rất ngạc nhiên với khả năng kiểm soát được thêm nhiều thứ với buồng tối số, những thao tác cực kỳ khó khăn ở thời phim, nếu không muốn nói là không thể.

Chúng ta hãy thử so sánh quá trình xử lý số với xử lý phim, để cho ra được một bức ảnh. Bắt đầu từ máy ảnh, như đã đề cập ở trên, phim ảnh được làm ứng với một điều kiện sáng cụ thể, thường là ánh sáng ban ngày. Nếu bạn muốn chụp trong nhà với ánh sáng đèn sợi đốt (tungsten) thì bạn cần thay phim khác. Máy ảnh số có thể chỉnh ngay trong máy để thích ứng với mọi hoàn cảnh sáng như ban ngày, đèn sợi đốt, đèn neon, bóng râm, nắng …  Ngoài ra, mỗi cuốn phim cũng có độ nhạy sáng (ISO) định trước. Nếu muốn phim nhạy sáng đương nhiên là phải đổi phim. Còn máy ảnh số thì chỉ cần thay đổi thiết lập trên máy là xong.

Mỗi phim đều có một dãy tương phản xác định (cho phép phân biệt khu vực tối nhất và sáng nhất trong khung hình mà phim có thể ghi nhận được). Những bối cảnh nào có độ tương phản rộng hơn dãy tương phản đó sẽ không thể hiển thị đầy đủ. Phim được sử dụng trong chụp phong cảnh còn có dãy tương phản hẹp hơn nữa. Hiện nay, các máy ảnh số dòng cao cấp có dãy tương phản rộng hơn hầu hết phim.

Phim đã từng có lợi thế là chất lượng ảnh, so với số, tuy nhiên giờ đây lợi thế đó ở máy khổ 35mm đã không còn nữa. Các máy ảnh số có độ phân giải từ 21Mega pixel đã bằng và vượt độ phân giải của phim 35mm. Các máy ảnh cỡ trung (medium format) cũng đã có lưng số có cùng kích thước để gắn vừa (2 ¼ inch). Những lưng số này có độ phân giải cực kỳ ấn tượng. Máy ảnh khổ lớn chụp phim 4x5, 5x7 đặc biệt là 8x10 inch tới giờ chưa có địch thủ số, nhưng cũng chỉ 5 năm về trước thì máy ảnh phim khổ 35mm cũng đâu đã có đối thủ. Tới giờ thì chất lượng từ máy phim 8x10 inch vẫn chưa bị qua mặt bởi cảm quang số hiện nay.

9. “Đạo đức nhiếp ảnh” của riêng tôi

Trước hết, tôi phải nói rằng tôi hoàn toàn ủng hộ nhiếp ảnh số và tính sáng tạo mà nó mang lại.  Tôi háo hức đón nhận bất cứ công cụ hoặc kỹ thuật nào, là kỹ thuật số hay bất cứ điều gì khác giúp tôi đạt được quan điểm nghệ thuật. Tôi vẫn sẽ chỉnh sửa hình ảnh để nó trở thành những tác phẩm có thể truyền tải một thông điệp nào đó cho. Tôi sẽ không bao giờ dàn dựng ảnh theo kiểu thêm chi tiết như ‘hoa dại’ mây hoặc những thứ không hiện hữu ở cảnh nguyên thủy. Tuy nhiên tôi cho phép mình có quyền loại bỏ những chi tiết thứ yếu trong hình như vài cọng cỏ, cành con không đóng góp vào bức ảnh hay tệ hơn là làm phân tâm phá bố cục. Mục tiêu của tôi là cho ra đời những tác phẩm thật đẹp cho một thế giới đang khao khát cái đẹp.

Tham khảo: http://www.beautiful-landscape.com/Thoughts72-Fine%20Art%20Photographs.html

tl(Theo Nhật Thanh (www.yeunhiepanh.net))

 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 

Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.