
Những
ví dụ như vậy rõ ràng làm cho người ta phải băn khoăn về việc một bức
ảnh có “thật” hay không. Và nó cũng khuấy động vấn đề rằng vậy nghệ sĩ
nhiếp ảnh được tự do trong khuôn khổ như thế nào?.
Galen
Rowell đã thảo luận về khía cạnh đạo đức trong ảnh phong cảnh, khi nói
về chỉnh sửa hình ảnh. Cũng nên lưu ý rằng Galen chụp phim và ông bị
chết trước khi cơn sóng số ập tới. Cũng như các nhiếp ảnh gia máy phim
khác, ông tuyên bố mình không chỉnh sửa thay đổi một bức ảnh (chúng ta
sẽ trở lại vấn đề này sau). Vấn đề còn là ở chỗ Galen Rowell thậm chí
còn không cảm thấy hợp pháp nếu tẩy đi một khúc cây hoặc thêm một khối
đá vào bức ảnh. Ông thậm chí rất cẩn thận nếu thấy cần phải dịch chuyển
vài ngọn cỏ để có được góc chụp mong muốn. Ông không bao giờ nhổ chúng
đi mà chỉ uốn nó lệch khỏi vị trí một chút và phục hồi lại sau khi đã
chụp xong.
Alain Briot, người thầy của tôi (bạn có thể thưởng thức những ảnh thiên nhiên rất đẹp của ông tại http://beautiful-landscape.com)
thường thích một câu nói như sau (tôi tóm tắt lại), “Ảnh của tôi không
thực, nhưng tin được”. Cũng như các nhiếp ảnh gia tài năng khác, ông cho
phép mình được tự do thể hiện cảm xúc, cảm quan mà không bị trói buộc
vào việc phải mô tả “sự thực” của cảnh quan trước mặt ông. Tôi nghĩ bạn
sẽ đồng ý thôi, nếu dành thời gian thăm trang web của ông để thấy cảm
quan của ông là có thể đáng tin.
4. Cái gì là thực?
Cái
gọi là mô tả “đúng sự thật” đã gợi ra một điều hay. Liệu có cách nào để
một máy ảnh có thể mô tả đúng sự thật của một bối cảnh nào đó được
không? Câu trả lời không chỉ đơn giản là “Không,” mà còn phải nhấn mạnh
là “Không đời nào!” Hãy thử tưởng tượng một cảnh các nhà khoa học đang
cố gắng ghi lại chân thực nhất một cảnh chụp. Họ sẽ mang theo mình những
thiết bị rất tinh vi nhằm tái tạo lại ánh sáng cả về cường độ và bước
sóng (màu) của mọi thứ nằm trong thị trường. Mây trắng sẽ có cường độ
sáng cao và là phối trộn của tất cả màu trong quang phổ nhìn thấy được.
Bầu trời xanh sẽ không sáng căng lắm và chỉ tông xanh dương với một chút
xíu các màu khác trộn chung. Cây, núi, đất, sông, suối đều được đo theo
cách như vậy. Và kết quả là họ có một đống các con số cho mỗi điểm
sáng. Và đó mới là sự thực trước mặt chúng ta. Nhưng lại không phải là
cái ta nhìn thấy.
Mắt
của chúng ta là một thiết bị cực kỳ tốt để nhìn thế giới, tốt hơn bất
cứ thiết bị nào được phát minh ra. Người ta có thể tranh luận rằng mắt
người chỉ có thể cho một cái nhìn không méo mó về thế giới Và điều này
chắc hẳn là đúng ở góc độ cá nhân. Nhưng chúng ta cũng biết rằng mắt mỗi
người mỗi khác. Có người bất hạnh bị mù, có người mắt yếu có người mắt
sáng. Bản thân tôi bị yếu mắt trái và phải dựa chính vào mắt phải để
nhìn. Số khác lại bị mù màu nên không thể nhìn thấy các màu tươi sáng
như phần đông. Tuy nhiên, hầu như tất cả chúng ta đều cho rằng đôi mắt
là “tiêu chuẩn vàng về sự thực” khi nhìn ra thế giới.
Vậy nhưng mắt chúng ta lại kết nối với não bộ, nên khi các tín hiệu thị giác được đưa tới não, chúng sẽ được diễn giải cùng
với những trải nghiệm mà ta có. Một ví dụ rất thú vị, đó là khi chúng
ta nhìn vào một mảng lá xanh trong buổi hoàng hôn, chúng ta vẫn cho rằng
những chiếc lá đó có màu xanh. Khi con gái tôi, lúc đó là 3 tuổi, nhìn
thấy cái lá xanh đúng với màu sắc thực của nó, đã thốt lên: “cha ơi coi
này, lá màu đỏ”. Một ví dụ khác: Vào một ngày trời trong xanh, bạn sẽ
thấy ánh sáng ở các khu vực bóng đổ thực tế là có màu xanh dương bởi nó
đến từ nền trời xanh chứ không phải từ mặt trời. Chúng ta chẳng mấy khi
thấy màu xanh bởi chúng ta “biết” cái chúng ta nhìn vào không hẳn là màu
xanh. Bởi những trải nghiệm của chúng ta làm chúng ta cho rằng / hoặc
dịch giải theo cách cứ như thể nó không phải như vậy, trong khi thực tế
lại là màu xanh. Hãy thử quan sát đi. Bạn hãy thử tập cho mình nhìn vượt
qua định kiến thì sẽ nhìn thấy màu xanh ở bóng râm. Thực tế là rất đẹp.
5. Máy ảnh bóp méo “sự thật”
Có
thể nói nôm na rằng tất cả chúng ta đều đôi chút bóp méo cảnh ở trước
mắt, và điều này cũng đúng đối với máy ảnh. Máy ảnh phim hay máy ảnh số
thì cũng vậy cả. Chúng đều làm thay đổi hình ảnh ghi lại được. Nếu bạn
xem một nhiếp ảnh gia chụp và sau đó xem lại hình ảnh hoàn toàn chưa
chỉnh sửa, bạn sẽ thấy ảnh và cái bạn nhìn thấy không hề giống nhau. Máy
ảnh nhìn nhận cảnh quan khác với chúng ta, và lại còn một thực tế nữa,
đó là tất thảy những gì lọt vào mắt chúng ta đều đã bị thay đổi, hay nói
cách khác là “bị điều khiển” bởi nhận thức của chúng ta.
Vậy
máy ảnh đã “bóp méo” ra sao? Có hai cấu phần chính của máy ảnh: ống
kính và vật liệu bắt sáng (hoặc là phim hoặc là tấm cảm quang). Ống kính
có thể làm biến dạng hình ảnh theo nhiều cách. Chúng có thể tạo vùng mờ
vùng rõ. Chúng có thể bị ám sắc. Phần rìa có thể bị tối hơn phần trung
tâm. Một ống kính nào đó có thể có đủ các bệnh nói trên. Người chụp
nghiêm túc có thể bỏ hang ngàn đô-la cho chỉ một ống kính giúp giảm
thiểu các biến dạng, nhưng các quang sai này vẫn còn đó chỉ ở mức độ
thấp hơn mà thôi.
Vật
liệu bắt sáng (phim hoặc cảm quang) cũng làm biến dạng. Phim được sản
xuất nhằm đáp ứng với màu sắc hoặc ánh sáng đặc thù, thường là ánh sáng
ban ngày. Nếu chúng ta dùng phim được thiết kế cho ánh sáng thông thường
mà chụp trong nhà vào buổi tối thì ảnh sẽ bị ám màu vàng hoặc cam khá
mạnh. Mà cái này thì không phải là cách chúng ta nhìn nhận. Nếu bạn chụp
ngoại cảnh mà có những khu vực đổ bóng rất tối xen lẫn khu vực quá sáng
thì phim hay cảm quang đều sẽ gặp khó khăn hiển thị đúng cả hai. Hoặc
vùng tối sẽ bị đen kịt mất hẳn chi tiết hay vùng sáng sẽ trắng xóa và
cũng không còn chi tiết. Đây được gọi là hiện tượng clipping (mất chi
tiết) mà mắt người không bị ảnh hưởng bởi điều này.
6. “Mấy cái ảnh này là chưa bị thay đổi nha”
Nhiều
nhiếp ảnh gia máy phim tuyên bố rằng ảnh của họ không bị sửa đổi. Điều
này giống như là có chút gì không thành thật. Tôi cho rằng ngay cả Ansel
Adams cũng không dám tuyên bố như vậy. Ông mường tượng được tấm ảnh sẽ
được in ra trước khi bấm chụp. Những nhiếp ảnh gia dùng phim tuyên bố
rằng họ không thay đổi gì ở bản in, nhưng thực tế là tất cả những người
này đều dùng phim làm tăng bão hòa màu và tăng tương phản cho cảnh thật.
Nếu chụp bằng phim transparency (mà hầu hết nhiếp ảnh gia phong cảnh sử
dụng) và cầm lên so sánh với cảnh thực thì còn xa mới giống nhau.
Ngoài
ra, những nhiếp ảnh gia máy phim còn dùng hàng loạt kính lọc từ kính
lọc phân cực, kính làm sẫm, kính sẫm bán phần, làm ấm, làm lạnh, tạo
sao, lọc màu bán phần v.v và v.v…. Và thế là họ lại đưa thêm thay đổi
bởi kính lọc bên cạnh sự biến đổi cố hữu từ ống kính và phim mang lại.
Vậy
điều này có phải dở hay không? Tôi nghĩ rằng không hề. Các nghệ sĩ đều
có những cách nhìn rất đẹp và tổng thể về thế giới đồng thời có kỹ năng
hoàn hảo để hiện thực hóa tầm nhìn này. Mục đích tối thượng của các
nhiếp ảnh gia máy phim là chụp được hình ảnh đẹp nhất, ghi lại trên phim
và nhiều nhiếp ảnh gia bậc thầy đã cho ra những bức ảnh hút hồn.
Họ
vẫn tiến hành đôi chút chỉnh sửa ở phòng tối khi phóng ảnh. Tất cả các
bản in màu đều cần cân chỉnh để cho ra độ phơi sáng cũng như cân bằng
màu đúng. Điều này không được coi là sửa đổi. Nhưng lại còn có kỹ thuật
burning and dodging – một kỹ thuật phòng tối kinh điển giúp làm tối hoặc
làm sáng một phần trong khung hình. Thường thì các kỹ thuật này cần
được thi hành giúp cho bố cục hình mạnh hơn, để biến một hình chụp thông
thường thành ảnh nghệ thuật. Cũng đôi khi người ta sử dụng kính lọc màu
để thay đổi màu sắc của một khu vực nào đó trong khung hình. Và đây đều
là những kỹ thuật phòng tối được chấp nhận sử dụng.
Nhiếp
ảnh gia máy số không nhất thiết phải đi hết cả quãng đường đau khổ đó
ngay tại hiện trường, để có thể có những tấm hình đẹp nhất. Đương nhiên,
họ vẫn phải căn đúng sáng như chụp phim (mặc dù họ có xu hướng chỉnh
lại phơi sáng nếu có bị trật đôi chút). Họ cũng sử dụng kính lọc phân
cực, kính làm sẫm và kính làm sẫm bán phần. Nhưng họ không cần phải sử
dụng kính lọc màu như các kính lọc làm ấm, hoặc làm lạnh tông màu. Và họ
không phải đổi cảm quang để cho màu sắc được nhuận hơn. Rất nhiều thứ
mà nhiếp ảnh gia máy phim phải tiến hành ngay ở hiện trường như thay
phim, thay kính lọc, thì nhiếp ảnh gia máy số hoàn toàn làm được ở hậu
kỳ. Sự thật khá giản đơn là nếu nhiếp ảnh gia máy phim không ghi lại
được quan điểm nghệ thuật của họ vào phim, thì nhiều khả năng là họ
chẳng bao giờ nhận ra được nó nữa.
7. Nghệ thuật mới là quan trọng
Hãy
đừng bị phân tâm bởi cuộc tranh luận máy phim và máy số. Điều quan
trọng là nghệ thuật và khả năng mà nghệ sĩ đó truyền tải được quan điểm
nghệ thuật của mình. Tranh cãi phim số thật là hài hước và vô nghĩa. Bạn
sẽ chẳng bao giờ thấy nhiếp ảnh gia tranh cãi với họa sĩ về việc phương
tiện nào thì thật hơn. Bạn cũng không thấy họa sĩ sơn dầu tranh cãi với
các họa sĩ màu nước.
Rốt
cuộc thì phương tiện ghi hình không phải là vấn đề, mà nghệ thuật mới
là vấn đề chính. Khi tôi xem một bức hình tuyệt vời bởi một nhiếp ảnh
gia tuyệt vời, tôi không quan tâm tới nhiếp ảnh gia đó sử dụng phim, số,
hay có chỉnh sửa gì không. Điều tôi quan tâm tới là nhiếp ảnh gia đó đã
nói được điều gì đó với TÔI, to và rõ ràng. Tôi nhấn mạnh chữ TÔI bởi
mỗi người sẽ có đáp ứng với nghệ thuật theo các cách rất cá nhân và
không giống nhau. Cái gây ấn tượng với người này lại chẳng gây cảm xúc
gì cho người khác.
8. Máy ảnh số đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nhiếp ảnh
Có
lẽ không ai tranh cãi về việc máy ảnh số đã làm một cuộc cách mạng
trong nhiếp ảnh. Rất nhiều nhiếp ảnh gia máy phim đã chuyển qua máy số.
Nhiều người vẫn chụp phim nhưng scan và lưu ảnh vào máy tính để có thể
chỉnh sửa hậu kỳ trên máy tính.
Bản
thân tôi là người làm quen với kỹ thuật buồng tối phim từ xưa và giờ
rất ngạc nhiên với khả năng kiểm soát được thêm nhiều thứ với buồng tối
số, những thao tác cực kỳ khó khăn ở thời phim, nếu không muốn nói là
không thể.
Chúng
ta hãy thử so sánh quá trình xử lý số với xử lý phim, để cho ra được
một bức ảnh. Bắt đầu từ máy ảnh, như đã đề cập ở trên, phim ảnh được làm
ứng với một điều kiện sáng cụ thể, thường là ánh sáng ban ngày. Nếu bạn
muốn chụp trong nhà với ánh sáng đèn sợi đốt (tungsten) thì bạn cần
thay phim khác. Máy ảnh số có thể chỉnh ngay trong máy để thích ứng với
mọi hoàn cảnh sáng như ban ngày, đèn sợi đốt, đèn neon, bóng râm, nắng
… Ngoài ra, mỗi cuốn phim cũng có độ nhạy sáng (ISO) định trước. Nếu
muốn phim nhạy sáng đương nhiên là phải đổi phim. Còn máy ảnh số thì chỉ
cần thay đổi thiết lập trên máy là xong.
Mỗi
phim đều có một dãy tương phản xác định (cho phép phân biệt khu vực tối
nhất và sáng nhất trong khung hình mà phim có thể ghi nhận được). Những
bối cảnh nào có độ tương phản rộng hơn dãy tương phản đó sẽ không thể
hiển thị đầy đủ. Phim được sử dụng trong chụp phong cảnh còn có dãy
tương phản hẹp hơn nữa. Hiện nay, các máy ảnh số dòng cao cấp có dãy
tương phản rộng hơn hầu hết phim.
Phim
đã từng có lợi thế là chất lượng ảnh, so với số, tuy nhiên giờ đây lợi
thế đó ở máy khổ 35mm đã không còn nữa. Các máy ảnh số có độ phân giải
từ 21Mega pixel đã bằng và vượt độ phân giải của phim 35mm. Các máy ảnh
cỡ trung (medium format) cũng đã có lưng số có cùng kích thước để gắn
vừa (2 ¼ inch). Những lưng số này có độ phân giải cực kỳ ấn tượng. Máy
ảnh khổ lớn chụp phim 4x5, 5x7 đặc biệt là 8x10 inch tới giờ chưa có
địch thủ số, nhưng cũng chỉ 5 năm về trước thì máy ảnh phim khổ 35mm
cũng đâu đã có đối thủ. Tới giờ thì chất lượng từ máy phim 8x10 inch vẫn
chưa bị qua mặt bởi cảm quang số hiện nay.
9. “Đạo đức nhiếp ảnh” của riêng tôi
Trước hết, tôi phải nói rằng tôi hoàn toàn ủng hộ nhiếp ảnh số và tính sáng tạo mà nó mang lại. Tôi
háo hức đón nhận bất cứ công cụ hoặc kỹ thuật nào, là kỹ thuật số hay
bất cứ điều gì khác giúp tôi đạt được quan điểm nghệ thuật. Tôi vẫn sẽ
chỉnh sửa hình ảnh để nó trở thành những tác phẩm có thể truyền tải một
thông điệp nào đó cho. Tôi sẽ không bao giờ dàn dựng ảnh theo kiểu thêm
chi tiết như ‘hoa dại’ mây hoặc những thứ không hiện hữu ở cảnh nguyên
thủy. Tuy nhiên tôi cho phép mình có quyền loại bỏ những chi tiết thứ
yếu trong hình như vài cọng cỏ, cành con không đóng góp vào bức ảnh hay
tệ hơn là làm phân tâm phá bố cục. Mục tiêu của tôi là cho ra đời những
tác phẩm thật đẹp cho một thế giới đang khao khát cái đẹp.
Tham khảo: http://www.beautiful-landscape.com/Thoughts72-Fine%20Art%20Photographs.html
tl(Theo Nhật Thanh (www.yeunhiepanh.net))